Giới thiệu chung

Bài phát biểu của GS Hoàng Xuân Sính, Chủ tịch HĐQT, tại Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Trường

Hai mươi năm xây dựng Đại học Thăng Long
(15/12/1988 - 15/12/2008)

(Bài phát biểu của GS-TSKH Hoàng Xuân Sính - Chủ tịch Hội đồng Quản trị trường Đại học Thăng Long tại lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập trường)

Kính xin tất cả ai đã tham gia vào chặng đường 20 năm này của Đại học Thăng Long, dù ít hay nhiều, hãy tìm thấy ở đây sự đóng góp của mình và lòng biết ơn.

Ngày 15/12/2008, Đại học Thăng Long tròn 20 tuổi. Đó là tuổi trưởng thành của một con người, nhưng đối với một đại học dân lập hay tư thục, tuổi 20 chỉ mới như một em bé chập chững biết đi, nhất là khi các quy chế Nhà nước ban hành cho loại mô hình này còn đang được hoàn chỉnh. Thực ra, trên thế giới, ngay cả với những nước có rất nhiều đại học tư, vẫn không hiếm trường đã phải đóng cửa sau ba bốn chục năm thành lập, trường nào trụ được sau khoảng thời gian đó mới tương đối đàng hoàng. Thăng Long cũng không nằm ngoại lệ : những năm tới còn phải có những cố gắng vượt bậc hơn nữa thì mới có cơ may trở thành một đại học thực sự. Dù sao cũng phải khẳng định điều này : ngoài những nỗ lực tự vận động của mỗi trường, sự phát triển của một trường đại học dân lập hay tư thục phụ thuộc rất nhiều vào quy chế mà Nhà nước ban hành cho nó, quy chế phù hợp với quy luật khách quan thì sẽ giúp nó cất cánh, còn không sẽ làm cho nó thui chột đi tới chết dần chết mòn.


Một lớp học toán năm 1988

I. Đại học Thăng Long theo từng giai đoạn thực thi các quy chế ban hành

Lịch sử Đại học Thăng Long đi cùng với việc hình thành các đại học dân lập và tư thục của đất nước Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới bắt đầu từ 1986. Trường ra đời ngày 15 tháng 12 năm 1988, và đã trải qua bốn giai đoạn (gắn liền với sự ra đời của các quy chế đại học dân lập và tư thục mà Nhà nước ban hành) :

*1988 - 1994 : giai đoạn Thăng Long làm thí điểm mô hình đại học dân lập. Trong giai đoạn này, Trường mang tên Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, với sứ mạng chính và rất quan trọng lúc đó là thực nghiệm mô hình cho toàn quốc về đại học tự chủ tài chính, không xin kinh phí Nhà nước. Chữ dân lập là do Trường đề nghị, thể hiện Trường không phải là công lập và để tránh chữ tư thục mà thời đó xã hội chưa chấp nhận. Còn chữ Trung tâm trong cụm từ Trung tâm Đại học Thăng Long là một ước mơ, một tham vọng, đó là mong ước trong tương lai Thăng Long sẽ là một trung tâm những trường đại học, nghĩa là có những trường con trong Đại học Thăng Long. Giấy khai sinh cho Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long do Bộ trưởng Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề ký ngày 15/12/1988. Lúc này Nhà nước chưa có quy chế đại học dân lập và Trường vừa hoạt động vừa suy nghĩ để đóng góp vào việc soạn thảo quy chế.


Cán bộ, Giáo viên và Sinh viên khóa 1,2 ĐH Thăng Long tại cơ sở đầu tiên của Trường (Trường Cán bộ quản lý y tế - Phố Giảng Võ) năm 1989

* 1994 - 2000 : giai đoạn Trường hoạt động và tổ chức theo Quy chế tạm thời Đại học dân lập ban hành theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo số 196 / TC CB ký ngày 21/01/1994. Cũng từ Quy chế này, hàng loạt các trường đại học dân lập đã ra đời trong cả nước. Trường đã tham gia với Bộ Giáo dục và Đào tạo để cho ra đời Quy chế tạm thời, trên cơ sở đó Trường đã làm tổng kết mô hình thí điểm, được kết luận là mô hình đại học dân lập mà Thăng Long thực hiện thí điểm là khả thi, và được Thủ tướng ký Quyết định chính thức ngày 09/08/1994 chuyển mô hình thí điểm Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long thành Trường Đại học dân lập Thăng Long. Trong tên mới của Thăng Long, chữ Trung tâm đã được thay bằng chữ Trường, theo quy định của Nhà nước.

*2000 - 2007 : giai đoạn Trường hoạt động và tổ chức theo Quy chế của Trường Đại học dân lập Thăng Long, viết dựa trên Quy chế Trường đại học dân lập ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 86/2000/QĐ - TTg ngày 18/7/2000. Quy chế này không khác lắm với Quy chế tạm thời đại học dân lập ban hành trong giai đoạn 1994 - 2000, có khác chăng là mỗi trường đại học dân lập phải có Hội Bảo trợ.


Trường ISG Paris tặng máy tính xách tay cho Đại học Thăng Long

tại văn phòng của Trường năm 1990

* 2007 - đến nay : giai đoạn Trường hoạt động và tổ chức theo Quy chế của Trường Đại học Thăng Long, viết dựa trên Quy chế Trường đại học tư thục ban hành theo Quyết định số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Quy chế của Trường Đại học dân lập Thăng Long. Trường Đại học dân lập Thăng Long đã được chuyển đổi thành Trường Đại học Thăng Long - tư thục không vì mục tiêu chia lợi nhuận - theo Quyết định số 1888/QĐ-TTg ngày 31/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Trong số 19 trường đại học dân lập mà Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chuyển sang tư thục theo Quyết định số 122/2006/QĐ-TTg ngày 29/05/2006, Thăng Long là trường đầu tiên hoàn thành việc chuyển đổi. Trường Đại học Thăng Long là trường đại học tư thục theo chế độ ‘’không vì mục tiêu chia lợi nhuận’’, và mục tiêu này được kiểm toán và thuế xác định thường xuyên. Trong Quy chế Trường đại học tư thục số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ (quy chế cuối cùng chưa bị thay thế bới một quy chế đại học tư thục khác) chưa có khái niệm tư thục không vì mục tiêu chia lợi nhuận. Đây là khái niệm của Quy chế Trường Đại học Thăng Long, mà giấy khai sinh Trường được Thủ tướng Chính phủ ký ngày 31/12/2007.


Sinh viên Thăng Long trong giờ ra chơi - sân Trường Cán bộ quản lý y tế năm 1989

Sau 20 năm hoạt động, Thăng Long đã hiểu sâu sắc rằng hoạt động và tổ chức của một trường đại học ngoài công lập có vững mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào quy chế. Quy chế có thể giúp trường cất cánh hay đưa trường đi tới đóng cửa. Tuy quy chế của trường là do trường viết, nhưng Nhà nước quy định phải nằm trong quy chế chung ban hành cho mọi trường. Vì vậy quy chế của mỗi trường, tuy có đặc thù riêng, nhưng không được ra khỏi cái khung chung đã được quy định. Điều này có thể hạn chế rất nhiều sự phát triển của trường nếu khung qui định không phù hợp với thực tế khách quan hay với qui luật phát triển.

5

Đội bóng ĐH Thăng Long tại sân Bách Khoa năm 1990

II. Sứ mạng

Trong suốt bốn giai đoạn nói trên, tuy có khó khăn về mọi mặt, nhất là thiếu kinh nghiệm quản lý một trường đại học ngoài công lập, nhưng Trường vẫn trung thành với sứ mạng đề ra ban đầu, đó là :

1. Hoạt động trên nguyên tắc không vì lợi nhuận, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, tôn trọng tính trung thực, tình yêu thương và tinh thần hợp tác.

2. Đào tạo sinh viên ở bậc đại học và sau đại học với chất lượng tốt nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực có tri thức của xã hội, đóng góp có hiệu quả vào chiến lược công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Tạo điều kiện cho sinh viên, trong khung cảnh toàn cầu hoá giáo dục, đã được đào tạo ban đầu ở Trường, di chuyển đến những trường đại học tiên tiến trên thế giới để học tập tiếp, hay thực tập và nghiên cứu qua các hợp đồng ký kết hợp tác và trao đổi sinh viên với những trường đại học nước ngoài.


Phân viện tiếng Nga Puskin - nơi đặt cơ sở của Đại học Thăng Long

trong các năm 1991 - 2000

3. Triển khai nghiên cứu khoa học trong Trường, trước hết để nâng cao chất lượng giảng dạy, và sau đó làm được nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của một trường đại học. Phấn đấu tạo ra cho Trường và xã hội một đội ngũ khoa học có năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào thực tiễn, biết làm việc hợp tác với các trường và viện nghiên cứu trong và ngoài nước để đạt hiệu quả tốt.

4. Xây dựng Trường trở thành một trung tâm văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ.


Lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên các khóa 1,2,3 – tháng 12/1994

Nhìn lại bốn mục tiêu của Sứ mạng, Trường thấy rằng :

* Về mục tiêu 1. Từ ngày thành lập cho đến nay, Trường đã hết sức trung thành với mục tiêu không vì lợi nhuận. Chính vì sự trung thành này mà Trường đã được sự giúp đỡ vô tư của Trường Đại học Quản lý Paris về học bổng cũng như về học thuật, hay sự giúp đỡ về tài chính của một số tổ chức phi chính phủ. Và có lẽ cũng do đó mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuyển đổi đầu tiên Trường Đại học dân lập Thăng Long, trong 19 trường đại học dân lập cả nước, thành Trường Đại học Thăng Long phi lợi nhuận. Trường Đại học Thăng Long tin tưởng rằng, với mục tiêu không vì lợi nhuận, Trường sẽ phát triển tốt vững vàng trong tương lai, và sẽ có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng một xã hội công bằng cho mọi công dân muốn thăng tiến bằng con đường học tập.

* Về mục tiêu 2. Để đào tạo sinh viên ở bậc đại học với chất lượng tốt, Trường đã rất chú trọng khâu tuyển sinh, bằng mọi giá giữ chất lượng đầu vào. Trong giai đoạn thực hiện mô hình thí điểm, mỗi năm Trường tuyển chỉ vài chục sinh viên, dù phải duy trì những khoá dưới 30 sinh viên, thậm chí chỉ có 6 sinh viên. Các khoá sinh viên này mang lại nhiều uy tín cho Trường do trình độ chuyên môn và cương vị đảm nhiệm trong xã hội của họ. Khi đã làm xong tổng kết mô hình thí điểm với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường vẫn tiếp tục chọn lựa đầu vào chặt chẽ, không chạy theo số lượng để ảnh hưởng chất lượng. Trong nhiều năm liên tiếp Trường tuyển sinh thường chưa tới một nửa con số mà Bộ Giáo dục cho phép dù việc đó khiến Trường thất thu khá nhiều. Sở dĩ chịu thất thu trong khá nhiều năm vì Trường tự xét đội ngũ giảng viên còn ít về số lượng và chất lượng, cũng như cơ sở vật chất của Nhà trường còn quá khiêm tốn nếu không nói là nghèo nàn. Mãi gần đây, khi bắt đầu xây được một ngôi trường khang trang hiện đại, Trường mới bắt đầu nghĩ đến tuyển sinh đủ chỉ tiêu. Năm học 2008-2009, Trường chuyển toàn bộ sinh viên về học ở trường mới. Ở đây cũng phải nói điều này, tuy dạy và học ở ngôi trường mà cơ sở vật chất còn rất nghèo nàn, Trường đã kiên trì không ngừng vươn mình nhìn ra khung cảnh toàn cầu hoá giáo dục trong những năm đầu 90 của thế kỷ trước tại những trường đại học tiên tiến của thế giới, và Trường đã chú ý ngay việc di chuyển sinh viên trong những năm đầu thành lập tới những trường đại học rất có uy tín trên thế giới, và nhiều sinh viên đã thành đạt từ các trường đại học có tên tuổi đó.

8

Tổng bí thư Đỗ Mười và đồng chí Phạm Thế Duyệt đến thăm Trường năm 1995

* Về mục tiêu 3. Trong các năm qua, Trường chỉ mới bắt đầu triển khai được việc nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Nói cho rõ ràng hơn, vì giáo viên cơ hữu được tuyển vào Trường phần lớn là những sinh viên mới tốt nghiệp đại học, cho nên Trường đã kiên trì thực hiện từng bước đưa các giáo viên trẻ lên trình độ thạc sĩ và bây giờ đưa vào chương trình ‘’tiến sĩ hoá’’ đội ngũ. Hiện nay các nghiên cứu sinh của Trường hoặc làm trong nước tại những viện nghiên cứu hay trường đại học được phép đào tạo tiến sĩ, hoặc làm ở nước ngoài với học bổng của nhà nước Việt Nam hay của nước ngoài ; nguồn đi nước ngoài không nhiều vì muốn có học bổng các nghiên cứu sinh phải trẻ và học lực trong quá khứ giỏi. Thực ra Trường cũng có một đội ngũ giáo sư tiến sĩ cơ hữu, nhưng còn tản mạn và cũng có tuổi vì chuyển từ những trường đại học công đến sau khi đã về hưu. Còn các giáo sư thỉnh giảng thì chỉ đến dạy, không làm việc hướng dẫn tiến sĩ. Tổ chức đào tạo tiến sĩ là một quá trình lâu dài cho một trường đại học mới thành lập, Đại học Thăng Long không nằm ngoại lệ. Nếu còn thêm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, ngoài việc giảng dạy, thì Trường còn cần nhiều thời gian phấn đấu kiên trì và bền bỉ về tài chính, về kinh nghiệm quản lý, về xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu, và cuối cùng là tạo được uy tín đối với xã hội, cộng đồng khoa học trong và ngoài nước.

* Về mục tiêu 4. Nếu đạt được mục tiêu 4 thì Trường Đại học Thăng Long mới là một trường đại học thực sự. Hiện nay, phải khiêm tốn nhìn nhận rằng Thăng Long chưa phải là một trường đại học theo đúng nghĩa của nó.


Sinh viên khoá 6,7 và các giáo viên nước ngoài trong ngày nhà giáo VN – 20/11/1994

III. Các ngành đào tạo

Từ khoa Toán - Tin chỉ có một lớp với 85 sinh viên năm 1988, Đại học Thăng Long hiện nay đã có các ngành đào tạo sau đây:

Khoa Toán và Tin học

· Toán - Tin ứng dụng

· Khoa học máy tính

· Mạng máy tính và viễn thông

· Hệ thống thông tin quản lý

Khoa Quản lý

· Kế toán

· Tài chính - Ngân hàng

· Quản trị kinh doanh (Quản trị doanh nghiệp, Quản trị marketing)

· Quản lý bệnh viện

Khoa ngoại ngữ

· Tiếng Anh

· Tiếng Nhật

· Tiếng Pháp

· Tiếng Trung Quốc

· Tiếng Ý

Khoa Xã hội và Nhân văn

· Công tác Xã hội

· Việt Nam học

Khoa Điều dưỡng

· Điều dưỡng

Khoa Khoa học sức khoẻ

· Y tế công cộng


Trường Trung cấp nấu ăn ở ngõ Lệnh Cư – nơi đặt cơ sở ĐH Thăng Long

năm học 1995 - 1996

Các ngành đào tạo của Đại học Thăng Long, tuy vẫn cố gắng nhằm các yêu cầu của xã hội, nhưng vẫn tránh các môn khoa học cơ bản và kỹ thuật đòi hỏi sự đầu tư lớn mà theo truyền thống dành cho các trường đại học trọng điểm của nhà nước.

Thomas L. Friedman đã nhận xét trong cuốn ‘’Thế giới phẳng’’ của ông : Của cải và quyền lực sẽ càng ngày gia tăng cho những quốc gia, những công ty, những đại học và những người có đúng ba thứ cơ bản : cơ sở hạ tầng để liên kết nền tảng thế giới phẳng này, giáo dục để nhiều người sáng tạo, làm việc và tận dụng nền tảng và cuối cùng khả năng quản lý để tranh thủ tối đa nền tảng và giảm thiểu mặt tiêu cực của nó. Và ông còn nhận xét thêm : giáo dục mang lại sự phồn vinh giàu có cho một quốc gia nếu sản sinh ra nhiều kỹ sư, nhà khoa học và nhà toán học. Toán học là một khoa học nặng, nhưng nó không đòi hỏi những phòng thí nghiệm đắt tiền như nhiều khoa học nặng khác. Chỉ cần giấy và bút chì, nhà toán học đã có thể làm việc được. Ngày nay với internet, người làm toán ở Việt nam may mắn hơn gấp nhiều lần thế hệ trước, thời đó mỗi lá thư họ gửi đi nước ngoài cho đồng nghiệp mất vài tháng thậm chí hàng năm mới tới. Cho nên một trong các nỗ lực của Đại học Thăng Long là mang niềm say mê làm toán cho đội ngũ giảng viên trẻ của mình, vì không phải đợi tới khi giàu có mới có thể làm toán được.


16

Cơ sở của Trường tại Khương Trung (từ 1995 đến 2008)

IV. Sinh viên

Từ 85 sinh viên năm 1988 khi thành lập trường, Đại học Thăng Long hiện có khoảng 7000 sinh viên theo học ở các ngành nói trên. Đó là một con số không lớn so với nhiều trường đại học ngoài công lập ra đời sau, và Trường vẫn kiên trì giữ mức phát triển như vậy, vì tài chính, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên cơ hữu còn khiêm tốn. Đầu vào của sinh viên chỉ vào mức trung bình so với các trường đại học công có tên tuổi - điểm tuyển mỗi năm chỉ trên điểm sàn một, hai điểm - cho nên Trường rất chú trọng rèn sinh viên trong các năm học tập tại Trường, để khi ra Trường họ có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Hệ thống tín chỉ giúp cho sinh viên nào biết tận dụng thời gian có thể tốt nghiệp sớm trước thời hạn, còn đối với sinh viên có hoàn cảnh kinh tế eo hẹp thì có thể vừa làm vừa học bằng cách kéo dài thời gian học ở Trường ; mặt khác, nó còn giúp sinh viên có sự lựa chọn chương trình học phù hợp với khả năng và sở thích hơn. Tóm lại, hệ thống tín chỉ giúp sinh viên học theo khả năng và hoàn cảnh kinh tế của mình để cuối cùng mỗi người đều có thể leo được lên cái thang thăng tiến xã hội. Theo số liệu điều tra theo dõi việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp do Trường tiến hành : sinh viên có việc làm trong 3 tháng sau khi ra Trường là 92,7% (con số này là cho toàn Trường), riêng đối với sinh viên Tin học là 95%. Trường có Hội Cựu sinh viên Thăng Long, 19,8% thành viên của Hội tạo được việc làm cho sinh viên tốt nghiệp của Trường. Hàng năm, đến ngày 15/12 – ngày phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên - nhiều cựu sinh viên về Trường để tặng học bổng bằng tiền của mình cho đàn em đang học, tạo nên một sự đoàn kết giữa sinh viên đã và đang học Thăng Long.


Đội SV 96 của Đại học Thăng Long tại đêm chung kết - tháng 12/1996


Sinh viên Thăng Long biểu diễn tại trụ sở UNESCO – Paris


V. Hợp tác quốc tế

Trường có hợp tác quốc tế từ năm 1990, ba năm sau khi triển khai mô hình thí điểm đại học dân lập. Trường Đại học đầu tiên đến với Thăng Long là Trường Đại học Quản lý Paris, tiếp theo đó là Đại học Toulouse 1, rồi đến Đại học Nice-Sophia-Antipolis. Trường thứ nhất là một trường đại học tư thục hoạt động với mục tiêu không vì lợi nhuận ; còn hai đại học còn lại là công (đi học không phải trả học phí) có tên tuổi, Toulouse 1 nổi tiếng về kinh tế, còn Nice nổi tiếng về tin học. Cả ba trường đều ở Pháp, nơi mà phần lớn đại học là công, không phải trả học phí. Hình thức hợp tác còn rất mất cân đối, nghĩa là chỉ có một chiều : Thăng Long gửi thày, gửi sinh viên đến thực tập hay học tập từ trình độ cử nhân đến thạc sĩ và tiến sĩ. Trường Đại học Quản lý Paris còn cho học bổng giúp sinh viên đi học không phải lo về tài chính. Chính vì việc cấp học bổng này mà một số sinh viên ưu tú bỏ những trường đại học có tên tuổi như Bách khoa hay Ngoại thương, trong những năm 90 của cuối thế kỷ trước - thời kỳ khó khăn để có học bổng đi học nước ngoài – sang Thăng Long học với hi vọng xuất ngoại. Hiện nay Trường đang triển khai đào tạo liên kết ở trình độ thạc sĩ với Đại học Nice. Các khó khăn trong liên kết phải kể đến, một mặt là tốc độ dạy của phía bạn nhanh so với trình độ sinh viên của mình còn thấp về chuyên môn cũng như ngoại ngữ, mặt khác học phí mà người học phải trả tương đối cao so với học phí không liên kết của Trường tuy phía bạn đã lấy với giá coi như chỉ đủ ăn ở và bay đi bay về, còn phần Trường phải dạy thì không tính tiền, chịu lỗ để nâng trình độ giảng viên, cập nhật chương trình từ đó cải tiến chương trình và nội dung giảng dạy của mình. Nhận thức rất rõ rằng các chương trình thạc sĩ của ta hiện nay rất kém cho nên chúng tôi cố gắng phải làm cái việc liên kết để tự nâng mình lên. Tâm lý hiện nay của nhiều gia đình là, nếu khó khăn về kinh tế thì con cái học thuần tuý chương trình nội địa, còn nếu đã có tiền thì gửi hẳn con ra nước ngoài học tập, không thích học cái kiểu mà người ta gọi là ‘’du học tại chỗ’’, tuy giá tiền phải trả đã ít hơn rất nhiều so với học ở nước ngoài, ngay cả ở những nước có nhiều trường đại học công không phải trả học phí như nước Pháp vì tiền ăn ở tại các nước đó đắt hơn học phí liên kết khá nhiều. Thực ra, chúng tôi được biết các trường đại học công có tên tuổi của ta được Bộ Giáo dục trợ cấp cho các chương trình liên kết có chất lượng, nên không gặp khó khăn như chúng tôi. Vì vậy một đại học ngoài công lập, muốn hoạt động có chất lượng, bắt buộc phải là phi lợi nhuận ; chúng tôi chỉ đưa ra một ví dụ đào tạo liên kết để thấy các khó khăn tài chính gặp phải khi một trường đại học muốn nâng chất lượng giảng dạy.


Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Trường và lễ phát bằng tốt nghiệp năm 1998 tại hội trường – cơ sở Khương Trung

VI. Hạ tầng cơ sở

Như đã nói ở trên, các trường đại học ngoài công lập hiện nay của ta đều tránh đào tạo các ngành khoa học nặng, đòi hỏi những thiết bị rất đắt tiền, Đại học Thăng Long cũng không nằm ngoại lệ. Cho nên cơ sở vật chất của Trường cũng chỉ gồm trường lớp, máy tính, thư viện và labo cho ngành Y và Điều dưỡng. Kể ra thì đơn giản, nhưng ở những lúc ban đầu thì bài toán hầu như không có lời giải, vì giá một máy tính 286 năm 1990 là 2500 đô la, tính sang tiền Việt lúc đó đã là hơn 20 triệu đồng, trong khi học phí mỗi sinh viên Thăng Long lấy cùng thời điểm là 200 000 đồng/năm, nghĩa là một khoá 100 sinh viên chỉ cho 20 triệu đồng/năm, không đủ mua một máy tính. Còn vấn đề lớp học thì khó kiểu như Định lý cuối cùng của Fermat, tưởng như không thể nào giải được. Đi thuê một giảng đường có sức chứa 100 người, thời đó đã có nơi đòi 100 000 đồng/buổi, như vậy nếu một tuần chỉ học 5 ngày và một năm chỉ học 7 tháng thì cũng đã mất 21 triệu đồng/năm, vượt học phí thu được. Vấn đề tài chính eo hẹp là một trở ngại rất lớn cho hạ tầng cơ sở của một trường ngoài công lập. Tuy được nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước giúp đỡ nhiều, nhưng tất cả đều rất khiêm tốn, và khó khăn vẫn chồng chất khó khăn. Có lẽ mọi khó khăn được tháo gỡ theo một quy luật, mà nhà khoa học thiên tài Albert Einstein đã đúc kết cho mọi trường hợp :

Từ mớ hỗn độn, hãy tìm ra cái đơn giản.

Từ những bất đồng, hãy tìm ra sự hoà hợp.

Trong khó khăn có cơ hội.

Từ mớ hỗn độn khó khăn, từ những bất đồng ý kiến, Thăng Long đã tìm được cơ hội, nắm được chân lý đơn giản để thoát khỏi cái vòng tròn luẩn quẩn. Năm học 2008 - 2009 này, Trường dọn về một cơ sở vừa mới xây xong, có thể nói là khang trang và hiện đại theo đúng nghĩa của nó. Cơ sở này xây trong một khuôn viên hơn 20 000 m2 với 32500 m2 diện tích sàn, gồm một toà nhà học tập 7 tầng ; một toà nhà 9 tầng dành cho labo, máy tính, hội thảo, xêmina, bảo vệ luận án, hành chính, điều hành, và một tầng làm nhà ở cho giáo sư nước ngoài đến Trường giảng dạy ; hai giảng đường 220 chỗ và một hội trường 600 chỗ có thể dùng cho hội thảo, giảng bài, hoà nhạc và chiếu phim ; một thư viện ; một nhà thể chất ; và một nhà ăn. Ở đây cũng phải nói là chúng tôi đã trải qua một cơn đóng băng của ngân hàng cùng với các cơn bão giá và lãi xuất trong khi xây dựng ngôi trường mới, mà nhiều lúc đã tưởng chừng phải ngừng thi công khi khó khăn lên tới tột đỉnh bắt đầu từ cuối năm 2007 đến năm 2008.



Mừng Thọ 70 tuổi GS - TS. Nguyễn Đình Ngọc - người soạn

chương trình toán tin đầu tiên cho ĐH Thăng Long

Dù phải lên thác xuống ghềnh, chúng tôi tự hứa cố gắng chèo lái để khỏi chệch con đường mà Thomas Friedman đã nhắc nhở cho những ai muốn sự giàu có đến với sự nghiệp : cơ sở hạ tầng tốt, giáo dục tốt, và quản lý tốt để có sự phồn vinh thịnh vượng.


Động thổ xây dựng trường mới

VII. Lời kết

Cuối cùng, chúng tôi xin lợi dụng dịp này để nói lời cám ơn chân thành sâu sắc nhất đến đội ngũ kỹ sư và công nhân xây dựng đã không ngại khó khăn giá rét của mùa đông vừa qua, của các cơn bão giá và lãi xuất, hoàn thành xuất sắc công trình ; đến ban chỉ huy công trình đã làm việc như xây chính nhà của mình để làm ra một công trình vừa tốt vừa rẻ vượt qua các cơn bão giá. Chúng tôi cũng phải nói rằng, không có sự giúp đỡ hiệu quả của một uỷ viên HĐQT của Trường trong những lúc công trường cần những khoản tiền rất lớn để thanh toán, thì không biết chừng đã phải ngừng thi công từ lâu, đừng nói tới việc hoàn thành công trình để dọn nhà mới trong năm học này. Và cuối cùng không có sự nhất trí của ban lãnh đạo Đại học Thăng Long cho bước tiến vượt bậc đầy khó khăn lần này của Trường, không có sự nỗ lực làm việc của cán bộ, giáo viên, nhân viên cơ hữu cùng các giáo sư thỉnh giảng, và sự hăng hái học tập của sinh viên thì chúng ta không có ngày 15/12 thứ 20 này để đánh giá các thành tích đã đạt được, tuy còn rất khiêm tốn, nhưng vững chắc, khẳng định con đường chúng ta đang đi là đúng.

Kỷ niệm Trường 20 tuổi, chúng ta hãy quyết tâm biến ngôi trường này thành nơi sinh viên muốn học, ham học, dành hết tuổi 20 cho việc học. Cầu mong nơi đây sẽ là môi trường văn hoá cho sự cần cù, tiết kiệm, trung thực, kiên trì và nhẫn nại để có thể tiếp thu tốt văn minh của thế giới.

Thăng Long, ngày 15 tháng 12 năm 2008



Video nên xem

Bản đồ

Thông tin liên hệ

Đường Nghiêm Xuân Yêm - Đại Kim - Hoàng Mai - Hà Nội
(84-24) 38 58 73 46 
(84-24) 35 63 67 75 
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.